SAPPHO - NỮ NHÀ THƠ HY LẠP CỔ ĐẠI

By Đinh Quang Tỉnh

SAPPHO - NỮ NHÀ THƠ HY LẠP CỔ ĐẠI

SAPPHO - NỮ NHÀ THƠ HY LẠP
(630 – 570 TCN)

Sappho (tiếng Hy Lạp Attic: Σαπφώ tiếng Hy Lạp Aeolic: Ψάπφω) - là nữ nhà thơ Hy Lạp cổ đại nổi tiếng cho đến tận ngày nay. Có thể gọi Sappho là nhà thơ nữ đầu tiên của thế giới người làm thơ ca ngợi tình yêu giữa phụ nữ và phụ nữ. Bà sống vào khoảng 630 – 570 trước Công nguyên.

More...

CHÂN DUNG NHẠC SỸ TRỊNH CÔNG SƠN

By Đinh Quang Tỉnh

 

Nhạc sỹ TRỊNH CÔNG SƠN I

Tranh sơn dầu của Đinh Quang Tỉnh (0 45 x 0 65)


Trịnh Công Sơn quê làng Minh Hương tổng Vĩnh Tri huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên. Ông sinh vào giờ Thìn ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Mão tức ngày 28 tháng 2 năm 1939 tại Daklak. Ông mất vào 12:45 trưa ngày 1 tháng 4 năm 2001 tại Saigon. Ông an nghỉ tại nghĩa trang Gò Dưa chùa Quảng Bình tỉnh Bình Dương bên cạnh mộ của thân mẫu.

More...

ĐI LỄ ĐẦU NĂM

By Đinh Quang Tỉnh



                  1 NGÀY  ĐI  LỄ ĐỀN  ĐÔ

              
      Đền Đô  (tức Đền Cổ Pháp) được dựng từ thế kỷ XI tọa lạc trên đất Làng Đình Bảng (Tiên Sơn – Bắc Ninh). Quê hương phát tích Nhà Lý ; Rồi được liên tục tôn tạo mở rộng vào nhiều thế kỷ sau. Là nơi thờ 8 vị Vua Nhà Lý nên còn được gọi là Đền Lý Bát Đế.

                 

        Lễ hội Đền Đô tổ chức hàng năm từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 3 Âm lịch - Kỷ niệm Lý Thái Tổ đăng quang Hoàng đế 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010. 

         
         Nhà Lý (1009 – 1225) dời Đô từ Hoa Đô (Ninh Bình) về Thăng Long đặt Quốc hiệu là ĐẠI VIỆT quốc gia phong kiến dân tộc độc lập và củng cố vững chắc. Cơ sở kinh tế là chế độ quốc hữu và phân phát ruộng đất. Nông nghiệp có những bước phát triển quan trọng. Các nghề thủ công như: làm đồ gốm trạm đá…đạt đến trình độ tinh xảo. Những tinh hoa và giá trị của nền văn hóa nghệ thuật dân tộc cổ truyền được thừa kế và phát huy mạnh mẽ. Ý thức bảo vệ nền độc lập dân tộc rất cao…
 
DƯỚI ĐÂY LÀ MỘT SỐ HÌNH ẢNH DI TÍCH ĐỀN ĐÔ ĐẦU XUÂN MẬU TÝ.

  

 


CỔNG ĐỀN ĐÔ VẮNG VẺ KHÁCH VIẾNG THĂM...



CHÍNH ĐIỆN ĐỀN ĐÔ U TỊCH




VÀI BA CÔ CẬU HỌC TRÒ ĐỊA PHƯƠNG GHI CHÉP LỊCH SỬ CỦA 8 ĐỜI VUA LÝ



...MỘT VÀI NGƯỜI THÀNH KÍNH DÂNG HƯƠNG



PHÍA BÊN PHẢI ĐỀN ĐÔ LÀ "VÕ CHỈ" -  ĐỀN THỜ QUAN VÕ VẮNG LẶNG...



BÊN TRÁI ĐỀN ĐÔ LÀ "VĂN CHỈ" - ĐỀN THỜ QUAN VĂN...



THỦY ĐÌNH TRÊN HỒ ĐỀN ĐÔ



... MỘT TÀ ÁO TỨ THÂN MỘT LIỀN CHỊ LẺ BÓNG...



HÁT QUAN HỌ Ở THỦY ĐÌNH



DU KHÁCH THƯỞNG THỨC "QUAN HỌ BẮC NINH"


               và đi lễ  ĐỀN BÀ CHÚA KHO

         Đền Bà Chúa Kho (Chủ Kho Từ) ở thôn Cổ Mễ Xã Vũ Ninh Thành phố Bắc Ninh – Tỉnh Bắc Ninh. Ngôi đền có từ thời Lý lúc đó gọi là Miếu Tiên Cô.
Đền thờ Linh Từ Quốc khố trong sử sách cũng không ghi rõ danh tính của bà dân gian truyền tụng cho đến ngày nay quên gọi là Bà Chúa Kho.
         Bà là người có tài coi sóc triều chính hòa hợp nhân tâm gia tăng điền sản phát triển nông trang …Khi đến vùng này bà đã  có công chiêu dân lập ấp khai khẩn đất hoang tích trữ lương thảo…
         Mùa Xuân năm 1077 đại quân  Nhà Tống kéo sang cướp nước Đại Việt ta. Chiến tuyến sông Như Nguyệt được dựng lên để cản bước quân thù do Lý Thưởng Kiệt tổng chỉ huy. Nơi đây đã trở thành kho hậu cần quan trọng nhất cung cấp vũ khí lương thực thực phẩm thuyền bè …cho quân đội góp phần quyết định vào chiến thắng quân Tống xâm lược. Bà là người trực tiếp chỉ huy việc tiếp ứng lương thảo vũ khí cho đại quân Nhà Lý. 
        Bà đã anh dũng hy sinh trong trận tuyến oanh liệt ấy. Nhằm  ngày 12 tháng giêng Âm lịch  thời vua Lý Nhân Tông – Niên hiệu  Thái Nình Đây là Đức Vua Nhà Lý trị vì lâu nhất 56 năm (1072-1128)  . Vua Lý Nhân Tông vô cùng thương tiếc đã xuống chiếu tấn phong Bà là Phúc Thần. Nhân dân tưởng nhớ công ơn Bà đã lập Đền thờ trên Núi Kho
        
        Nơi đặt kho lương xưa đã trở thành nơi thờ phụng và lễ hội của cả vùng Kinh Bắc. 

Không khí cúng bái ở Đền Bà Chúa Kho đông vui nhộn nhịp và náo nhiệt khác hẳn ở Đền Đô. 

Xin giới thiệu một vài hình ảnh "ĐI LỄ ĐỀN BÀ CHÚA KHO"



ĐƯỜNG VÀO "TAM QUAN"



HÀNG BÁN ĐỒ LỄ VIẾT SỚ VIẾT TRẠNG...LA LIỆT HAI BÊN ĐƯỜNG TRƯỚC CỬA ĐỀN.



ĐÀI TẾ THIÊN



TRƯỚC SÂN PHỦ CÔNG ĐỒNG.



TRƯỚC CỬA TAM TÒA THÁNH MẪU



TRƯỚC CỬA TIỀN TẾ



QUANG CẢNH SÂN TIỀN TẾ



BÀN THỜ KỶ NIỆM 931 NĂM NGÀY GIỖ BÀ CHÚA KHO



NHÀ TƯỞNG NIỆM HỒ CHỦ TỊCH trong khuôn viên Đền Thờ Bà Chúa Kho



PHÍA SAU ĐỀN BÀ CHÚA KHO CÓ MỘT ĐOẠN TƯỜNG THÀNH CỔ BẰNG ĐÁ ONG? NHƯNG HỎI DÂN ĐỊA PHƯƠNG MỚI HAY ĐÂY KHÔNG PHẢI  TƯỜNG THÀNH MÀ LÀ MỘT BỨC TƯỜNG NHÀ "thưng" BẰNG ĐẤT VÀ VÔI  SÓT LẠI CỦA MỘT CÔNG TRÌNH THỜI BAO CẤP CHƯA TỚI 50 NĂM...



NGƯỜI XIN LỘC THÁNH...   KẺ XIN TIỀN BỐ THÍ.



ĂN MÀY THỜI HIỆN ĐẠI "Có cả điếu cày lẫn rượu Vân!"


                                                           <ảnh Ba Tỉnh>

 

More...

VĨNH BIỆT GS.VS VŨ TUYÊN HOÀNG

By Đinh Quang Tỉnh




GS.VŨ TUYÊN HOÀNG ĐANG VẼ NHẠC SỸ MAI TUYẾT HOA




Ký họa của GS.VŨ TUYÊN HOÀNG


 
       MỘT KỶ NIỆM KHÓ QUÊN

 
(Ghi lại kỷ niệm của nữ nhạc sỹ  Mai Tuyết Hoa với GS.VS Vũ Tuyên Hoàng). 


              Mới đây thôi nhân dịp đầu Xuân Mậu Tý GS.Hoàng Chương - Tổng giám đốc Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam cùng chúng tôi đến thăm và chúc tết GS.VS Vũ Tuyên Hoàng tại nhà riêng của ông.

             Hà nội vẫn còn rét đậm nhưng căn phòng đầy ắp sách tranh hoa và tấm lòng nồng hậu hiếu khách của chủ nhà đã làm cho căn phòng ấm áp rộn ràng hẳn lên. GS.Vũ Tuyên Hoàng đặt một chai rượu ngoại bên cạnh bình hoa cúc đại đóa rực rỡ sắc màu vui vẻ nói:  Đây là chai rượu Vua của các loại Vua rượu tôi để phần giáo sư Hoàng Chương và các bạn cả hoa nữa - hai vợ chồng tôi đều yêu thích hoa có thể thiếu thịt thiếu cá chứ không thể không có hoa tươi…

               Nhạc sỹ Mai tuyết Hoa kể: Ấn tượng sâu sắc nhất của tôi khi được đến thăm nhà riêng của giáo sư là nếp sinh hoạt giản dị thể hiện ngay trong cách bày trí căn phòng: vừa để ở vừa để làm việc. Rất ngăn nắp sạch  sẽ và nhiều sách có cuốn đang tra cứu đang đọc dở…tranh ảnh và hoa. Nơi trang trọng nhất ông treo chữ “Nhẫn” viết thảo bằng chữ Hán rất đẹp đối diện là bức ảnh phóng to chụp ông bà giáo sư với hai cậu con trai kỷ niệm những ngày ông sống và làm việc ở Liên Xô cũ.

               GS. Vũ Tuyên Hoàng rất mê hát Quan họ Bắc Ninh và hát Ả đào. Ông là người gốc Hà Nội từ bé đã sống ở Phố Hàng Đào. Riêng về hát Xẩm ông chưa cảm nhận được những cái hay cái độc đáo như nhiều bài báo đã viết cũng như một vài nghệ nhân trình diễn mà ông được nghe…

              GS. Hoàng Chương vui vẻ giới thiệu tôi (Mai Tuyết Hoa) là người  nghiên cứu chuyên sâu về lối hát Xẩm với GS Vũ Tuyên Hoàng. Ông rất quan tâm và vui vẻ hỏi tôi cặn kẽ về hát Xẩm. Tôi đã mạnh dạn trao đổi với giáo sư về những loại hình hát Xẩm - lối hát của người mù đi hát rong gồm nhiều giọng và thường có đệm bằng nhị bằng hồ hoặc phách…Để Ông cảm nhận được cái riêng biệt của hát xẩm tôi đã hát minh họa cho ông nghe một vài trích đoạn. Ông chăm chú theo dõi và vui hẳn lên. Ông nhanh nhẹn lấy bút giấy ra vẽ tôi. Bức ký họa ngẫu hứng ông tặng là một kỷ niệm đẹp đối với đời làm nghề của tôi.

                Ngày hôm sau tôi ngỡ ngàng và thật sự vui mừng khi nhận được cuộc điện thoại của GS.Vũ Tuyên Hoàng mời tôi đến phòng làm việc của ông ở Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam để trao đổi và cung cấp cho ông tài liệu để ông hoàn thành bài viết về “Nghệ thuật hát Xẩm” cho Tạp Chí Văn Hiến. Đúng ngày hẹn nhưng vì “Cu tý” nên tôi bị trễ gần nửa giờ. Ông đã chữa ngượng cho tôi bằng câu nói trìu mến: “Bé là trung tâm của vũ trụ trễ hẹn vì bé nên không ai có lỗi cả”. Tôi mừng quá nên trình bày liền một mạch gần 2 giờ đồng hồ khá đầy đủ những nghiên cứu thử nghiệm và hiểu biết của tôi về hát Xẩm. Giáo sư mải mê nghe và đôi lúc tranh luận với tôi rất bình đẳng... Để khép lại buổi làm việc tôi trình bày bản “Xa quê” của nhà thơ Nguyễn Bính bằng lối hát “Xẩm tàu điện”. Ông như đắm mình vào hoài niệm của mốt Hà Nội xưa một Hà Nội đã khuất xa trong trí nhớ…

               GS.Vũ Tuyên Hoàng đã gợi ý với tôi nên thành lập một trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc trực thuộc Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy Văn hóa dân tộc Việt Nam để có điều kiện nghiên cứu và bảo tồn nhiều lối hát dân tộc của khắp các vùng miền trong cả nước trong đó có hát Xẩm. Ông mời chúng tôi chuẩn bị một chương trình hát Xẩm trình diễn tại Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam   nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3 sắp tới. Một buổi làm việc sôi nổi và kết quả. Tôi có cảm tưởng như được báo cáo với thầy kết quả của công trình nghiên cứu mà tôi đã lao động miêt mài và ấp ủ bấy lâu bây giờ mới gặp được sự đồng cảm chia sẻ của một người có tầm vóc văn hóa lớn. Dường như buổi làm việc rất trúng ý nên ông vui lắm Ông lại vẽ tặng tôi một bức chân dung nữa.  

                2 tiếng đồng hồ của ngày thứ tư hôm ấy được gặp và làm việc với GS. Vũ Tuyên Hoàng không ngờ lại là lần cuối cùng tôi được gặp ông. GS.Vũ Tuyên Hoàng ra đi đột ngột quá. Tôi nhớ như in lúc chia tay Ông còn đưa cho tôi 2 tờ giấy trắng dặn phải phô-tô 2 ký họa để ông lưu vào bộ sưu tập. Những điều ông gợi ý căn dặn tôi và cả việc phô-tô 2 ký họa nữa tôi chưa kịp làm thì ông đã ra đi. Tôi không còn cơ hội được gặp lại.

                Tôi thương nhớ và kính trọng ông - Nhà khoa học có tấm lòng nhân hậu: Giáo sư Viện sỹ Vũ Tuyên Hoàng.


                                                                  Vũ Thanh Nhàn thực hiện




More...

PHẠM THỊ ĐỨC - NỐT LẶNG CUỘC ĐỜI

By Đinh Quang Tỉnh

ĐĂNG LẠI BÀI BÁO SỐ 27 NGÀY 14 THÁNG 7 NĂM 2001

TRÊN BÁO TUỔI TRẺ THỦ ĐÔ CỦA TÁC GIẢ HỒNG LÊ

          (Trong cuộc gặp mặt đầu Xuân của Blogs Hà Nội Chị Phạm Thị Đức đã nhòa lệ khi nghe nhạc sỹ - nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trình bày bài hát mới nhất của anh: "Xa quê nghe tiếng mẹ". Xúc động  Phó CT Hà Linh nhắc tôi nên giới thiệu về người khách tham dự buổi họp mặt này: Phạm Thị Đức - Chị như một nốt lặng giữa đời (lời bình của nhà báo Hồng Lê). Tôi xin đăng lại bài viết trên của nhà báo Hồng Lê phu nhân nhà báo Đỗ Quảng viết về chị Đức - người nhiều năm là hàng xóm của vợ chồng chị).

NHÂN KỶ NIỆM NGÀY TRUYỀN THỐNG LỰC LƯỢNG A.N.N.D(12-7).




Chân dung Phạm Thị Đức do Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu vẽ tặng chị năm 1981 tại Hà Nội
 

       PHẠM THỊ ĐỨC NỐT LẶNG CUỘC ĐỜI




Chị Phạm Thị Đức thời trẻ

         Người đàn bà mà tôi kể dưới đây thoạt nhìn cũng như bao người đàn bà tảo tần bình dị khác. Chị là hàng xóm của gia đình tôi. Sáng sáng chị tất tả đi ra cái chợ cóc bên kia đường mua thức ăn chuẩn bị cơm nước trong ngày chiều về thì vui đùa cùng cháu hoặc phụ giúp anh Ba chồng chị ngồi bên giá vẽ vẽ những chân dung bạn bè mà cả nhà anh và chị yêu quý ngưỡng mộ. Thỉnh thoảng gặp tôi ngoài chợ chị tíu tít trò chuyện bao nhiêu là chuyện với những nụ cười…

            
         Cho đến một hôm căn nhà trong cái ngõ hẻm quanh co chật hẹp của chị bỗng tấp nập tiếng cười người ta mang hoa đến tặng chị mang máy quay phim và rất đông các nhà báo... Một ông già tóc đã bạc trắng (Ông Ba Sơn) run rẩy  ôm lấy chị nghẹn ngào: “Sau bao nhiêu năm cuối cùng chú đã tìm thấy cháu”. Miệng chị cười thật tươi nhưng nước mắt lại lăn trên má…Vòng tay nồng ấm của ông già và nữ đại tá an ninh (Bà Thuận vợ đồng chí cố bí thư Thành ủy Hà Nội Lê Văn Lương) đã làm thức dậy những kỷ niệm xa xăm của một thời khó quên gần 50 năm về trước. Qua lời kể ngắt quãng không giấu nổi xúc động và niềm vui hội ngộ của mọi người những người hàng xóm chúng tôi ngỡ ngàng và bị cuốn vào câu chuyện của chị.        
         Chị Đức Phạm Thị Đức. Mùa sen nở năm đầu thế kỷ 21 này chị tròn 55 tuổi đã “lên chức” bà ngoại. Quê chị Đức ở làng hoa Ngọc Hà Hà Nội. Bố làm nghề thợ may mẹ bán hoa quả ở cổng chợ Đồng Xuân. Nhọc nhằn khuya sớm bươn chải tảo tần cả cha lẫn mẹ cam chịu vất vả nuôi 6 người con ăn học nên người. Đấy là vào những năm 50 của thế kỷ trước thực dân Pháp đàn áp đẫm máu phong trào cách mạng Việt Nam. Yêu nước căm thù giặc cùng với chị em tiểu thương buôn thúng bán bưng ở chợ Đồng Xuân mẹ chị là cơ sở nuôi dưỡng cán bộ hoạt động cách mạng. Với gánh hàng rong trên vai bà có thể rong ruổi trên các phố phường Hà Nội lân la dò hỏi tin tức địch mà bọn giặc không một mảy may nghi ngờ. Trong số những người vẫn lui tới liên lạc với mẹ chị có ông Nguyễn Ngọc Sơn (Khi hoạt động bí mật ở Miền Nam ông có tên thường gọi là Ba Sơn).

       Lúc đó chị còn quá thơ dại mới bảy tám tuổi đầu nào đã hiểu gì về cách mạng về lòng yêu nước. Nhưng khi mẹ hỏi: “Đức có thương cậu Sơn không?” thì chị cười: “Con yêu mẹ con thương cậu Sơn”. Mẹ lại hỏi: “Đức có ghét thằng Tây không?” Đức gật đầu: “Con ghét thằng Tây cầm súng vào làng bắt gà và đá đổ ghánh hàng của mẹ”. Cái yêu cái ghét của chị buổi đầu tiên đến với cách mạng là thế. Chị không thể nào quên cái năm 1952 ấy Cậu Sơn bị giặc Pháp bắt đem giam cầm ở Hỏa Lò. Mẹ và chị đóng giả là vợ con ông Sơn vào thăm nuôi chồng và bố. Mỗi tháng được vào thăm 2 lần mỗi lần được gặp 15 đến 20 phút. Những lúc ấy chị được mẹ mặc cho cái áo dài màu đỏ rộng lòe xòe. Mẹ dặn khi vào Hỏa Lò thăm “bố” gặp “bố” Đức phải lao vào ôm “bố” khóc mếu rồi nói với “bố” những lời mẹ dặn. Thằng lính canh mắt không rời mẹ chị chứ hoàn toàn không để ý gì đến cô bé gái mới tý tuổi đầu đang ôm chặt lấy cổ “bố” khóc thút thít thì thầm to nhỏ với người cha đang bị cầm tù. Chúng đâu ngờ chính những giây phút hiếm hoi thương nhớ đầy nước mắt đó cô bé đã nói nhỏ vào tai ông Sơn những điều  quan trọng mà mẹ cô đã dặn dò cặn kẽ từ trước. Ông Sơn cũng đã nhanh nhẹn lần trong tay áo dài màu đỏ của cô bé nhận lấy mẩu giấy vê tròn “Mệnh lệnh của Việt Minh”. Ông Sơn lại dặn dò con gái và cũng kín đáo ghim lại mẩu giấy báo cáo ra cấp trên. Cứ như vậy mối tháng 2 lần ròng rã suốt hai năm trời mà không bị Tây phát hiện.Cho đến khi ông Phạm Ngọc Sơn lĩnh án tử hình và bị đày ra Côn Đảo thì đường dây ngừng hoạt động. Đường dây liên lạc do mẹ con chị Phạm Thị Đức đảm nhiệm đã góp phần quan trọng vào phong trào hoạt động chống thực dân Pháp trong những ngày khó khăn gian khổ nhất của Đảng bộ và nhân dân Hà Nội.





Đại tá công an Ba Sơn ra thăm Hà nôi 1995 từ trái qua phải:TS Nguyễn Xuân Vinh - Chánh VP Bộ Thương Mại TS. Minh Chí - Vụ trưởng vụ Pháp chế BTM Đại tá Ba Sơn Đại tá Trịnh Đình Vinh TCCT)

        Năm 1954 trao trả tù binh ông Sơn được Sở công an Hà nội giao nhiệm vụ vào Sài Gòn nằm vùng trong vai giáo sư dạy Anh ngữ. Trong thời gian trước tiếp quản Thủ đô căn nhà số 88 Phố Sơn Tây (Hà Nội) của mẹ con chị Đức đã trở thành điểm hẹn nơi gặp gỡ họp bàn trao đổi và nhận chỉ thị công tác của lãnh đạo phong trào công nhân lao động Thủ đô. Thường xuyên lui tới địa điểm này có đồng chí Xương phụ trách phong trào công nhân Bưu điện Hà nội. Đồng chí Lâm phụ trách phong trào công nhân nhà máy ngói xi măng Bưởi. Đồng chí Châu phụ trách phong trào công nhân nhà máy xà phòng tỉnh Hà Đông… Sau ngày hòa bình được lập lại ở Miền Bắc các đồng chí ấy đều đã trở thành những cán bộ chiến sỹ công an nòng cốt của Sở Công an Thành phố Hà Nội.      
        Năm 1965 chị Đức được cử đi học nghiệp vụ Tài chính tháng 10 năm 1966 chị về làm việc tại công ty Vận tải Đường sông. Cơ quan có trụ sở tại cửa khẩu Vân Đồn Hà Nội. Lúc này ngày đêm máy bay phản lực Mỹ gầm rú trên bầu trời Hà Nội Con sông Hồng đỏ ngầu phù sa chảy qua cửa ngõ Thủ đô chẳng ngày nào là không có bom rơi. Chị Đức và đồng đội thay nhau đêm đêm có mặt tại bến cảng Phà Đen vừa bán vé vừa giúp đỡ hướng dẫn đồng bào qua lại phà sao cho nhanh chóng và an toàn. Trong câu chuyện chị Đức vui vẻ nói: “Ngày ấy gian khổ lắm nhưng cũng rất vui! Hai vợ chồng mới cưới nghèo nhất công ty. Có một chiếc xe đạp tôi nhường để anh đi vì công việc của anh đi lại nhiều hơn tôi. Và tôi cứ “cuốc” bộ suốt 4 năm ngày nào cũng  bồn lượt đi đi về về…Kể cả những lúc con cái ốm đau cũng vẫn phải hoàn thành nhiêm vụ được giao”.
      
        Năm 1973 chị được chuyển công tác về Trường Văn hóa – Thể thao Hà Nội (thuộc Sở TDTT Hà Nội) từ cái nôi đào tạo thể thao chuyên nghiệp này của Thủ đô đã có bao thế hệ thày trò trưởng thành các em mỗi khi gặp chị đều âu yên gọi chị bằng “U” chị như người mẹ hiền chăm bẵm đời sống cho bao thế hệ học trò vừa học văn hóa vừa rèn luyện thể thao nhiều kỷ lục quốc gia đã được lập nhiều người đã đem vinh quang về cho Tổ quốc…
      
        Giờ đây bốn người con của chị đã khôn lớn và trưởng thành. Ba chị em lớn đều tốt nghiệp đại học Ngoại Thương.  Riêng cậu út quyết theo nghiệp cha năm nay thi vào Đại học Mỹ thuật. 
     
        Người phụ nữ mà tôi vừa kể hiện đang sống trong ngôi nhà nhỏ ở một con hẻm thuộc Phường Ngọc Khánh Quận Ba Đình – Hà Nội. Phạm Thị Đức – có thể cái tên ấy chưa gợi cho chúng ta một cái gì thật đặc biệt bởi chị cũng như bao người chị người mẹ Việt Nam khác giầu đức hy sinh và lòng dũng cảm đã đóng góp sức mình vào công cuộc bảo vệ xây dựng đất nước một cách âm thầm lặng lẽ. Cô bé liên lạc 7 tuổi năm xưa người vẫn lưu lại trong ký ức của ông Nguyễn Ngọc Sơn và các đồng chí cùng thời với ông hình ảnh đẹp về một cô bé mặc chiếc áo dài đỏ ôm chầm lấy ông gọi “bố” hình ảnh và chiến công thầm lặng của cô bé cứ trữu nặng trong lòng ông suốt những năm tháng hoạt đồng trong lòng địch ở Sài Gòn. Và người đàn bà tảo tần đảm đang hôm nay như là một nốt lặng trong cuộc đời mà chúng ta có thể bắt gặp ở đâu đó nhưng vì vô tình ta không để ý đến.




Chị Phạm Thị Đức và Thanh Nhàn - hai chị em thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh (2008).

      
       “Ra ngõ gặp anh hùng” câu nói cửa miệng một thời chống giặc ngoại xâm ngẫm bây giờ vẫn đúng. Cuộc sống muôn màu hàng ngày ta sống bên những con người tưởng rằng bình dị nhưng trong họ ẩn chứa biết bao vẻ đẹp đến ngỡ ngàng mà ta chưa biết tới.

*  Ảnh : Chúng tôi đã dùng ảnh mới để minh họa trong bài viết .
                                                        

                                                                             Hồng Lê  tháng 7/2001
==============================================  

XIN CẢM ƠN NHÀ THƠ HOÀNG CÁT - MONG ANH MAU LÀNH.
CHÚC ANH CÓ NHIỀU VẦN THƠ MỚI TRONG MÙA XUÂN NÀY.





THƠ HOÀNG CÁT VIẾT TẶNG BA TỈNH

Hoa bạn tặng như bình minh xuân mới
Nhưng đẹp hơn vẫn là Trái Tim Người
Trái Tim bạn chứa chan nhân ái
Bạn thân yêu! - xin nhớ bạn trọn đời...

@- Cảm ơn Ba Tỉnh thật nhiều nhé! Chúc bạn mùa xuân sáng trong và ấm áp niềm hạnh phúc của một cuộc đời đầy ắp kiêu hãnh...


                                                                                            Hoàng Cát 2008


  1.  Tỉnh yêu quý!
    Sáng sớm ra mở trang blog thấy ngay những lời comment thật ấm áp của Bạn tôi THÍCH lắm HẠNH PHÚC lắm! Cảm ơn Bạn thật nhiều...Tôi cũng nhớ bạn lắm muốn được ngồi với nhau trong một ngày nắng ấm gần đây lắm!
    Xuân mới Mậu tý xin cầu chúc cho Bạn và mọi người thân yêu luôn luôn được nhiều niềm vui may mắn hanh thông mọi điều...
    Tin yêu bạn!

                                                      HC




 
   

More...

MỘT VÀI HÌNH ẢNH VỀ NGÀY THƠ VIỆT NAM RẰM THÁNG GIÊNG

By Đinh Quang Tỉnh



            Đúng là trời chiều lòng người hơn một tháng nay Hà Nội lạnh buốt và u ám người người co ro trong gió rét thu lu như cuốn chăn bông quanh người... - Tết Nguyên Tiêu bừng sáng trong ánh nắng mặt trời nụ cười và những tà áo duyên dáng của các em gái Thủ Đô như làm cho thành phố ngàn năm tuổi trẻ lại trong ngày Thơ Việt Nam...

        Ngày Thơ Việt Nam năm nay đẹp hơn có tình hơn phong phú đa dạng sâu lắng đáng nhớ...

        Xin giới thiệu cùng bạn đọc một số hình ảnh ghi được ở Quốc Tử Giám trong ngày Thơ Việt Nam Rằm tháng Giêng 2008.



Quang cảnh cửa chính khuôn viên Quốc Tử Giám trong ngày Thơ Việt Nam.



Lá cờ lớn biểu tượng của Ngày Thơ Việt Nam (do nhà thơ họa sỹ Nguyễn Trọng Tạo thiết kế) tung bay trong không khí Hội Thơ.



Người đến nghe thơ đông vui hồ hởi không khí ngày Xuân như ấm áp hơn..



Nhạc sỹ Nguyễn Vĩnh Tiến say đắm hát Ca Trù hiện đại "...Con vịt tránh rét đứng một chân...con chuồn chuồn Ớt lượn quanh ao rau Cần..."



Cung bậc đàn Đáy như vịn vào lòng mỗi người...



Nhà thơ Vi Thùy Linh "Thả bóng tình" Vi Thùy Linh lắng đọng...



Vi Thùy linh "Hát thơ" Vi Thùy Linh "Múa thơ"...



Xem Vi Thùy Linh nghe Vi Thùy Linh...Mọi người đắm say kinh ngạc  thán phục và cũng có chút khó hiểu!



Phút thư giãn của BTC.

....................

CHỢ CHỮ BÊN LỀ NGÀY THƠ.



Chợ "Bán chữ" trên hè phố Quốc Tử Giám.



Ông Đồ hiện đại.



Ông Đồ hoài cổ...



Người mua chữ ...



Người mua chữ...



Người mua chữ



Người mua chữ.



Người ta đã lãng quên "Bia Hạ Mã" (ngày xưa Vua đi qua đây cũng phải xuống ngựa). Trước Quốc Tử Giám ngày nay xe to xe bé chạy như mắc cửi (người ta còn cắm biển đường 1 chiều để xe chạy nhanh hơn khỏi bị tắc đường...)!!!



Nhưng ngày Hội Thơ vẫn vui...những câu thơ hay nhất cũng sẽ được bay lên bầu trời Thủ đô yêu quý tôn vinh những tài năng thơ Việt Nam...



...vẫn an toàn.
            (Ảnh: Ba Tỉnh)

More...

SÔNG CẦU CHÀY NGÀY NAY

By Đinh Quang Tỉnh

               SÔNG CẦU CHÀY NGÀY NAY 

 

          

         Tôi gửi tặng Truyện “Người đàn bà khóc bên sông Cầu Chày” cho người em họ tên là Mai Vĩnh Quý công tác ở Tổng cục Hải quan nay đã nghỉ hưu –  gia đình ông Quý cùng tản cư với gia đình tôi vào Thanh hóa thời kháng chiến chống Pháp và mục kích những sự kiện xảy ra ở Bàn A (Trại Vạc).

         Đầu năm 2008 vừa qua bằng chiếc xe máy Honda 150 phân khối ông Quý đã rong ruổi tìm về Trại Vạc nay là Thôn Ngọc Thiện Xã Thiệu Ngọc Huyện Thiệu Hóa Tỉnh Thanh Hóa - nơi có bãi cỏ Bàn A và dòng sông Cầu Chày năm xưa để tìm gặp con cháu - những nhân vật trong truyện của tôi. Đã quá nửa thế kỷ biết bao đổi thay trong cái làng Bàn A nửa Kinh - nửa Mường này bãi cỏ con sông xưa như nhỏ lại. Câu chuyện xưa cũng không mấy ai còn nhớ. Nhưng thật may mắn ông đã gặp được Cụ Nguyễn Hữu Chắt và bà Đinh Thị Dậu cả hai cụ nay đã gần 80 tuổi. Nhận ra ông Quý hai cụ òa khóc…  

         
Ông Quý gửi tặng tôi những bức ảnh ghi lại chuyến đi nghĩa tình của ông. Xin được giới thiệu cùng bạn đọc.





Thôn Ngọc Thiện  xã Thiệu Ngọc Huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa



Bãi cỏ Bàn A ngày nay



Vườn bưởi năm xưa nơi "Tính bắt nhái cho kiến ăn..."



Sông Cầu Chày ngày nay



Cụ Nguyễn Hữu Chắt (thứ 2 bên trái) cùng con cháu mời cơm ông Mai Vĩnh Quý (thứ 2 bên phải).



Cụ Đinh Thị Dậu và các cháu ngoại.



Ông Mai Vĩnh Quý trên cây cầu bắc qua sông Cầu Chày.

More...

MỘT SỐ TRANH CHÂN DUNG SƠN DẦU CỦA ĐINH QUANG TỈNH ĐÃ CÔNG BỐ TRÊN MẠNG

By Đinh Quang Tỉnh

tranh chân dungtranh chân dung

********************************






NHÂN DỊP ĐẦU XUÂN XIN GIỚI THIỆU MỘT SỐ TRANH CHÂN DUNG VNS VÀ TRÍ THỨC MÀ TÔI  KÍNH  TRỌNG (BTC sẽ lựa chọn 108 trong tổng số hơn 200 tranh để trưng bày trong triển lãm này). TRIỂN LÃM DỰ KIẾN TỔ CHỨC VÀO MÙA HẠ 2008.


More...

NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÓC BÊN SÔNG CẦU CHÀY (Tiếp theo và hết)

By Đinh Quang Tỉnh


                         TRANH : THÀNH CHƯƠNG


                                                                                                                         (tiếp theo và hết)
    
        Khi mẹ con bà Giáo đi xem hát về không thấy ông ra mở cổng như mọi lần. Ba gian nhà tranh tối như bưng bên trong lặng ngắt như tờ. Bà Giáo linh cảm có chuyện chẳng lành vội đẩy cổng đi như chạy vào nhà. Bà lật đật quờ tay theo chiếc sào phơi áo để xuống bếp thổi lửa thắp đèn. Bà làm lơ không trả lời câu hỏi của bọn trẻ rằng “Thày đâu hả bu?” mà giục hai chị em Quy đi ngủ để mai dậy sớm học bài. Bọn trẻ đã mệt nhoài không còn sức đâu mà nghĩ đến chuyện khác nên lăn ra phản ngủ khì. Ánh sáng mơ hồ của ngọn đèn dầu vờn nhẹ trên gương mặt ngây thơ đến ngọt lịm của hai đứa trẻ phảng phất nụ cười hồn nhiên dấu ấn của một đêm thỏa sức nô đùa mà không bị người cha xét nét. Nhưng chỉ khoảnh khắc nữa thôi hạnh phúc êm đẹp sẽ tan biến chúng bỗng thành côi cút và khốn khổ nhất thế gian này. Cái rương bà Giáo đựng của hồi môn được đặt giữa giường nơi ông nằm đọc sách trên nắp rương một chiếc vòng bạc trạm rồng “vật bất ly thân” của bà Cả Long chặn lên tờ giấy viết lời xám hối đẫm lệ của Giáo Ly. Nét chữ nắn nót và ngổn ngang tẩy xóa là sự cẩn trọng cuối cùng của kẻ nghịch tử trước giờ bị thủy thần lôi đi hành quyết...
       Bà Giáo cắn chặt môi lấy can đảm đọc hết lá thư tuyệt mệnh. Cái vòng bạc trạm rồng vẫn còn dính máu bị gẫy làm đôi bây giờ được khớp đúng với nhau. Giọt máu đã thành người được mang tên Phượng rùng mình. Than ôi! Ông giáo Ly vừa là cha đẻ vừa là anh ruột và cũng vừa là chồng của nàng! Trái tim non yếu của người đàn bà bất hạnh như rỉ máu. Toàn thân Phượng mềm nhũn rữa ra chết lịm ngay bên cái rương cũ kỹ trông như cỗ tiểu sành đựng xương người khi cải táng.Vừa mới sáng tinh mơ anh lái đò bên chợ Chiềng đã nhìn thấy xác người đàn ông nằm úp tóc tai xõa xợi vướng vào đám bèo bồng nằm vật vờ ngay mép bờ sông Cầu Chày.



Ảnh tư liệu minh họa "Đấu tố trong CCRĐ"


       Tin ông Giáo Ly trẫm mình ở sông Cầu Chày chẳng mấy chốc loang đi khắp làng. Quan huyện đưa lính lệ về tra hỏi mấy ngày ba mẹ con bà Giáo chỉ khóc. Nhìn gia cảnh mẹ góa con côi “rách như tổ đỉa” lại đúng mấy ngày mưa gió thầy tớ quan trên đóng ở nhà chánh tổng hủ nho vừa già vừa keo kiệt. Quan pháp y nản quá nên phán rằng: “Giáo Ly quẫn trí tự vẫn. Hắn chết thiệt cho gia đình không ai trong làng can dự cả. Gia đình được phép mai táng!”  
        … Bà giáo làm mâm cơm cúng ba ngày để ông khỏi thành ma đói rồi chẳng nói chẳng rằng bỏ đi biệt tích vứt lại hai đứa trẻ ngơ ngác chưa kịp hiểu ra điều gì.
        Hai chị em Bạch Kim Quy và Bạch Tiểu Quy được ông bà Quế đón về nuôi cho đến khi khôn lớn. Căn nhà tranh ba gian hai chái của gia đình Giáo Ly bây giờ không còn nữa. Miếng đất bỏ hoang cây dại mọc um tùm một cụm luồng không người đốn chặt cứ chen nhau mọc to như quả núi. Chiều chiều gió thổi thân luồng xiết vào nhau nghe như có tiếng người than thở. Đồn rằng ở đó có ma nên không ai bén mảng lâu rồi cây mọc thành gò dân Bàn A quen gọi là gò ông Giáo.

        Rổ khoai luộc thấm sương đêm đã nguội ngắt. Mải nghe cụ Cố Tâm kể chuyện chẳng ai buồn ăn. Bọn trẻ há hốc mồm ra nghe thấy ly kỳ như chuyện cổ tích người lớn thì trong lòng thấy xót xa ai oán.
Mẹ tôi với chiếc gáo dừa có cán dài làm bằng tre đực mà cụ Cố Tâm dành riêng chỉ để múc nước chè tươi. Bà khẽ khoả nhẹ lên mặt nước sóng sánh rồi nghiêng miệng gáo dìm những lá chè tươi đã chín rầu để chắt lấy gáo nước đặc tiếp vào bát mời cụ Cố uống cho ngọt giọng. Mẹ tôi thở dài thốt lên bâng quơ như hỏi ông trời:
               - Không biết ông Quế làm phúc hay làm tội người ta đây?
         Cụ Cố Tâm dường như vẫn còn biết một điều gì đó rất bí mật. Cụ nhìn mẹ tôi giọng trầm hẳn xuống:
               - Người ta bảo “Làm phúc thì hay phải tội”! Nhưng “Thiên hữu mục” - Ông giời có mắt bà ạ!
         Rồi cụ cố chậm rãi nhìn mọi người một lượt như thể kéo dài sự sốt ruột của chúng tôi. Cụ cố kể tiếp:“Cái ngày tôi còn trẻ mấy anh em ở Bàn A rủ nhau đi gom hạt trẩu khô gánh bộ sang tận Giếng Bái để bán. Ngày ấy dân từ Kim Bôi Hạ Bì Đà Bắc trên Hoà Bình lũ lượt kéo nhau vào xứ Thanh làm ăn đông vô kể. Họ kháo nhau đủ chuyện nên tình cờ tôi mới rõ nguồn cơn. Chẳng là ngày xưa người vợ bé của Quản Thức tên là Hĩm Mọt tính cô này phóng đãng từ khi còn nằm trong bụng mẹ Hĩm Mọt là con gái út của cụ Nhiêu Tùy người gốc Đà Bắc Hoà Bình. Hĩm Mọt hồi còn con gái đã phải lòng anh đánh xe ngựa ở Tu Lý. Khi có mang cô bị cụ Nhiêu Tùy đánh cho một trận dừ đòn rồi gọt đầu bôi vôi đuổi ra khỏi nhà. 



Ảnh tư liệu minh họa "Đấu tố trong CCRĐ"


        Lại nói đúng cái ngày Hĩm Mọt đau đẻ thì Cả Long cũng mang thai đã mười tháng mà vẫn chưa chuyển dạ. Anh chồng sợ quá đã cất công đi tìm thày tìm thuốc rồi rước về một lão lang băm. Không hiểu thuốc thang thế nào mà vợ Long mới uống chưa hết một thang đã bị trụy thai. May mà vợ cả Long có sức chứ không thì hắn đã mất con lại mất luôn cả vợ. 
        Vợ chồng Cả Long đang lúc tiếc thương đứa con đầu lòng chết yểu thì mụ đỡ bên Tu Lý tất tả đến mách chuyện: Cái nhà cô Hĩm Mọt chửa hoang bị cụ Nhiêu Tùy đuổi ra khỏi nhà vừa sinh được thằng con giai. Mẹ con Hĩm Mọt đang dở sống dở chết không biết trông cậy vào đâu. Vợ chồng Cả Long mừng rỡ như bắt được của. Mặc dù còn yếu nhưng ngay chiều hôm ấy vợ Cả Long lập tức thuê xe ngựa cùng mụ đỡ đi tìm mẹ con Hĩm Mọt. Khi ôm được đứa trẻ trong tay vợ Cả Long dúi vào tay Mọt đúng một trăm đồng bạc Đông Dương luôn thể biếu mụ đỡ hai đồng bạc Hoa Xoè. Cả Long âu yếm hôn nựng thằng bé “ về nhà tha hồ mà ăn cá ăn thịt nhá cục cưng của bu!” . O cẩn thận quấn cho đứa bé cái chăn chiên gấp làm tư rồi ôm chặt nó vào lòng vội vã ra bến xe kịp về Suối Yên kẻo tối.
       Có thằng bé trong nhà vợ chồng Cả Long vui hẳn lên. Cô vợ được cái mát tay tốt sữa nên thằng bé lớn nhanh như thổi. Cả Long rất yêu thương con đặt tên đẹp cho nó là Ly bởi hắn nhằm vào bộ tứ bình có tên mình đứng đầu là “Long Ly Quy Phượng”. Từ đấy đứa con hoang được mang họ Bạch - Bạch Ngọc Ly. Nó được vợ chồng Cả Long thương yêu chẳng khác gì con đẻ.
       Dân chợ Suối Yên cứ đinh ninh thằng Ly là con đẻ của vợ chồng Cả Long.
Năm thằng Ly được hai tuổi thì Cả Long đột ngột qua đời vì căn bệnh quái gở. Xung quanh cổ y mọc đầy hạch mỗi ngày mọc nhiều thêm cho đến khi nó ăn đứt cổ họng thì Cả Long chết không dặn được câu gì. Để lại người vợ trẻ ở vậy tần tảo nuôi con. 

                                                                          
                                                                          ĐOẠN KẾT



        Tết năm ngoái nể sự uỷ thác của một người bạn Việt kiều là nhạc sĩ sống ở pa-ris về nước đón xuân. Tôi nhận giúp bạn nối khố của ông tên là Bạch Tiểu Quy một hoạ sĩ có tiếng trong giới hội hoạ “sắp đặt” ở Pháp. Ông Tiểu Quy về nước để tìm người chị ruột tên là Bạch Kim Quy nghe nói bà bỏ quê Thanh Hoá xuống tóc đi tu từ ngày hoà bình mới lập lại ở Đông Dương. Chị em ông thất lạc đã mấy chục năm. Nhiều lần về nước dò hỏi nhưng ông chưa tìm được tung tích. Có người mách một cụ bà sống ở Boóc-đô trở về quê hương để dối già và làm công đức tu bổ mấy ngôi chùa ở trong nước. Cụ kể rằng có lần đã gặp vị sư Bà tên là Bạch Kim Quy Pháp danh Huệ Ứng tu ở chùa Phật Mỗ hay Phật Mô gì đó nhưng nay cụ đã mất nên chẳng thể biết ngôi chùa ấy hiện ở tỉnh nào huyện nào xứ Bắc. Việc này chắc cũng như “mò kim đáy biển” nhưng vì trọng sự gửi gắm của cố tri nên tôi đã dành cả tháng trời để lo việc. Bạn bè  chia nhau đi dò hỏi hầu hết các chùa ở Miền Bắc thực tình cũng đã  cố hết mức nhưng không có kết quả gì.
       Như duyên tiền định. Sau tết Hà Nội vẫn còn tiết Xuân. Tình cờ qua phố Đặng Tiến Đông tôi đang đứng trước Viện Hán Nôm thì gặp tiến sĩ Phạm Ngọc Tính từ trong Viện lững thững đi ra. Gặp tôi ông mừng quá cứ nắm chặt lấy tay như sợ tôi biến mất. Mở đầu câu chuyện ông tóm tắt ngay mấy hàng “trích ngang”: Nay đã ở tuổi “thất thập cổ lai hy”. Về hưu gần mười năm rồi. Có bốn con và sáu cháu nội ngoại. Được phân nhà ở khu tập thể Thanh Xuân Bắc…Ông nhắc lại kỷ niệm xưa trò chơi cho kiến ăn nhái để lấy bộ xương phơi nắng lại ứng vào cái nghiệp của ông sau này: Thi đỗ Đại học Tổng hợp học Sinh - Hoá. Ra công tác ít năm được đi tu nghiệp ở Trung Quốc trở thành tiến sĩ sinh vật học về nước làm việc ở Viện Sinh-Hóa liên tục cho đến ngày nghỉ hưu. Ông giỏi tiếng Trung và đam mê nghiên cứu Hán - Nôm. Khi đã nghỉ công tác mà anh em mới vào nghề vẫn nhờ ông dịch hộ tài liệu hoặc tra cứu những từ Hán - Nôm khó. Thật ra giúp đỡ anh em trẻ là chính một phần vì nhớ nghề chứ ba đồng “nhuận bút” lẻ tẻ có nói được điều gì đâu anh. Ông Tính đưa tay điềm đạm vuốt nhẹ bộ râu quai nón vừa dài lại vừa trắng như cước hứng khởi ông khoe: “Hè năm ngoái ông được địa phương mời về dự lễ khánh thành trường phổ thông mang tên Bàn A. Ông là vị khách danh dự - Tiến sỹ khoa học đầu tiên của quê hương nên được đón tiếp rất trọng thị. Ông thật sự tự hào về làng Bàn A quê ông về ngôi trường khang trang đẹp đẽ với ba dãy nhà hai tầng mái ngói đỏ tươi tọa lạc trên thửa đất Gò ông Giáo xưa nơi truyền tụng bao chuyện lạ đời và kỳ bí…Nó được xây dựng bằng tiền bạc và công sức của nhân dân Bàn A trong đó có cả khoản tiền nho nhỏ trích từ giải thưởng khoa học của ông.
        Nghe dân Bàn A kháo nhau những cây luồng đốn ở gò Ông Giáo ghép được hơn hai chục cái bè nuôi cá lồng trên sông Cầu Chày mà vẫn còn thừa vô số. Ai cần cây chống bão làng cho chọn đem về mà không lấy một cắc. Như “Bát cơm Phiếu Mẫu trả ơn nghìn vàng” những cây luồng của Gò ông Giáo đã góp phần làm giầu cho Bàn A quê hương nghèo đói cơ cực một thời.
         Biết tôi đang tìm ngôi chùa cổ do sư Bà có húy tự Bạch Kim Quy trụ trì.
Ông quả quyết rằng hầu hết các đình chùa được xếp hạng di tích ở Miền Bắc ông đều thuộc như lòng bàn tay. Nhờ cuộc gặp gỡ “tiền định” với tiến sỹ Phạm Ngọc Tính mà chúng tôi tìm ra chùa Phật Mỗ nơi Đức Huệ Ứng – Bạch Kim Quy trụ trì. Tiếc rằng khi tìm được Chùa thì Sư Bà đã quy tịch được vài thu vào đúng cái năm mưa lũ lớn nhất ở Bắc Bộ nước ta. 
        Từ Phú Tây An về chùa Phật Mỗ khoảng hai cây số đoạn đường đá dăm ít người qua lại như bị bỏ quên. Con sông cạn nằm vật vờ bên dệ đường để mặc cho những bụi chuối đua nhau mọc bát ngát cả hai bên bờ như muốn phủ kín con sông quê. Giữa bạt ngàn màu xanh cây lá ẩn hiện một ngôi chùa cổ thấp bé mái ngói rêu phong cô tịch. Hàng cây Cùm rụm thân xù xì gẫy khúc tán lá xanh bóng mọc quanh bể nước có mái vòm xây to gần hết tường nhà  thờ tổ. Nửa thân cau già khoét rỗng ruột làm máng dẫn nước mưa lấy từ miệng con cá chép dáng Huyết Long đắp nổi nằm oai vệ nơi đầu đốc mái chùa. Mắt Huyết Long gắn bằng thủy tinh cứ lấp lánh nhìn về phía tháp mộ hàng chữ Hán khắc chìm trên tường tháp vẫn còn tươi  nét mực: “Huệ Ứng Đại Đức chi mộ”. 
       Chùa Phật Mỗ từ ngày Sư Bà Huệ Ứng viên tịch ngôi Trụ trì vẫn để ngỏ. Bởi vậy Sư Ông Thích Thiện Tâm phải để mắt trông coi cả hai ngôi: chùa Trắng bên Phú Tây An và chùa Phật Mỗ trong này. Đức Thiện Tâm là người chịu ảnh hưởng nếp chân tu của Sư Bà Huệ Ứng. Sự Bà thường răn môn sinh rằng: “Ta còn không có làm gì có cái của ta”. Cả đời tu hành cốt để cầu phúc và làm phúc cho chúng sinh. “Cơm nhà Phật có thể chưa ăn nhưng việc nhà Phật phải gánh mới mong an bình cho muôn loại”. Ngài thường nhủ rằng: “Biết bao công trình nguy nga tráng lệ do con người xây dựng trên thế gian này nếu chỉ bị thời gian và thiên nhiên tàn phá thì chúng ta còn nhiều đền đài miếu mạo danh thắng như Chùa Dạm Đền Sòng Thành Cổ Loa…để mà thờ phượng để mà chiêm ngưỡng. Nhưng than ôi! Kẻ hủy hoại khủng khiếp nhất những công trình vĩ đại ấy lại chính là con người. Bởi thế cần thức tỉnh nhân tâm mọi con người.  Gìn giữ quá khứ cho tương lai cũng chính là giữ gìn tương lai cho quá khứ vậy”.
 
      
Nhất kiến vi kiến với Bạch Tiểu Quy một người trí tuệ dung mạo song toàn mà cuộc đời lại khổ ải thê lương đến khốn cùng Đức Thiện Tâm khuyên rằng: “Người phải tìm về nương nhờ nơi cửa phật mới mong nhàn tâm dứt hận được”.
       Bạch Tiểu Quy như xác không hồn chắp tay đứng trước mộ phần người chị ruột. Dáng ông liêu xiêu gầy guộc giống cái cọc khô cắm giữa trời. Đôi mắt đục ngầu cạn kiệt sức sống của ông cứ đờ đẫn bởi ánh sáng lấp lóa từ nhỡn thần Huyết Long rọi đến thôi miên. Bạch Tiểu Quy đang mơn man trong miền hư ảo thì đột nhiên rú lên kinh hãi mắt trợn ngược sùi bọt mép. Rồi cái thân hình gầy gùa ấy  đổ vật xuống đầu đập vào cánh hoa sen đắp nổi bằng xi măng nơi tháp mộ tịnh không thấy một giọt máu... Bạch Xà Chúa có mào đỏ tía vươn đầu oai vệ thè lưỡi xanh lè oằn mình rút mạnh đuôi ra khỏi đế giày đã mòn vẹt của Tiểu Quy ung dung trườn mình vào bụi cây Chà là rậm rạp phía cuối  lăng mộ Tổ.
        Bạch Tiểu Quy chết vì bị rắn độc cắn nên nhà chùa không bị liên luỵ gì. Nhưng cũng phải mất khá thời gian tiền bạc và công sức của nhiều đoàn thể xã hội từ thiện mới làm xong thủ tục hồi hương cho một xác chết “vô thừa nhận”. 
   
       Mộ của kẻ bạc phước cao hơn thước ta tròn bằng cái thuyền thúng câu tôm úp ngược nằm khiêm nhường trong khu vườn trồng cây thuốc Nam phía sau chùa Phật Mỗ. Nấm đất tròn thẫm màu hoàng thổ nổi bật giữa màu xanh cây lá như cái dấu chấm hết cho kiếp hận thù “oan oan tương báo” của Tông Tộc nhà họ Bạch.
  
        Tiếng chuông chùa ngân nga giữa thinh không vọng đến tận miền quê yên bình phía cuối trời.

                                                                                ĐQT. 
(Hà Nội 04/2004 -10/2007)   

More...

NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÓC BÊN SÔNG CẦU CHÀY (tiếp theo)

By Đinh Quang Tỉnh




                            TRANH  :   THÀNH  CHƯƠNG


NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÓC BÊN SÔNG CẦU CHÀY


                                                                                                                           (tiếp theo)


         Cơm nước xong Ly cứ ngồi lỳ trên cái chõng tre đặt ở ngoài thềm. Tích nước chè tươi cũng đã vơi tới đáy. Khuya lắm rồi mà vẫn không thấy buồn ngủ. Ly xỏ chân vào đôi guốc mộc lững thững đi vào nhà trong lấy chai rượu dở. Sương dăng dăng phủ nhẹ xuống cây rừng làm dịu đi cái nóng bức oi ả của khí trời miền sơn cước. Ly càng uống càng mềm môi. Cầm ly rượu cậu nghĩ đủ chuyện cái anh rượu này có từ thời trước khi loài người phát minh ra lửa đàn ông nguyên thủy nhặt những quả rừng đã lên men vắt lấy nước uống trước lúc hành dục với hàng chục loài cái một lúc mà vẫn thấy mạnh mẽ vô cùng. Hình ảnh của Thục Trinh con gái cụ đồ Giản đan xen với gương mặt béo tròn đen đúa của cái Hĩm Đỏ chập chờn trước mắt cậu cứ như mời như gọi. Cái chất men mà đàn ông tiền sử uống giờ đây như đã ngấm vào cậu…
         Mọi khi Bà Cả Long ngủ trong buồng gian ngoài kê hai cái phản cái giáp bàn thờ dành riêng cho Ly. Hĩm Đỏ hay ngủ nhờ ở cái phản bên ngoài nơi bà Long chứa hàng. Hôm nay thấy con chưa ngủ bà Long cứ chong đèn nằm chờ. Đã quá nửa đêm bà rón rén đến bảo Hĩm Đỏ vào buồng trong ngủ cho tiện. Còn bà ra ngủ ở phản ngoài chờ con. Bà cởi chiếc áo vải phin cộc tay vắt lên thành ghế chỉ mặc độc cái yếm vải tay cầm quạt nan phe phẩy bâng quơ rồi thiu thiu ngủ. Tuy đã ngoài bốn mươi nhưng bà ít lam lũ nên da dẻ lúc nào cũng trắng như trứng gà bóc trông bà phúc hậu dịu dàng nên quanh vùng cũng có vài đám khá giả muốn cùng bà đi bước nữa nhưng thấy bà đoan chính nết na quá không tiện ngỏ lời cho nên bà ở vậy nuôi con mãi đến giờ. Ngoài trời đám mây đen từ đâu đã kéo đến che khuất cả vầng trăng khuya. Xóm chợ như chìm trong giấc ngủ vùi chỉ còn tiếng gió thổi nhè nhẹ va vào lá cây xào xạc rì rầm…
         Ly loạng choạng đẩy cửa bước vào nhà. Như thói quen cậu quay người đưa tay rờ rẫm rồi chốt chặt cái then ngang cửa lại. Căn nhà như thu nhỏ im lìm chỉ còn tiếng thở gấp gáp của Ly quyện lấy mùi đàn bà quyến rũ nơi đây như tách biệt với thế giới bên ngoài. Ngọn đèn dầu lạc đã cháy đến cuối bấc cứ chập chờn lúc tỏ lúc mờ. Bà Long đã ngủ thiếp đi trong dáng nằm rất hớ hênh. Cái quạt nan trong tay bà rời ra hờ hững nằm nghiêng bên cánh tay trần. Một bên ống quần bà vén cao để xoa vết muỗi đốt quên không kéo xuống để lộ vế đùi trắng ngà…
         Cái mông căng tròn của Hĩm Đỏ rướn lên khi nó gội đầu như cào vào trí nhớ của Ly. Con người đàn ông trong Ly đang lớn lên khao khát kiếm tìm. Cậu dò dẫm từng bước trong gian nhà tối om hai tay như bắt nhịp về phía trước bỗng chân cậu vướng vào mép phản Ly chững lại rồi như có ma lực xô cậu ngã sấp đè lên thân hình mềm mại thơm ngát mùi bồ kết. Trong mơ hồ Ly mỉm cười với Hĩm Đỏ… Bà Long giật mình tỉnh giấc thấy Ly nằm úp lên bụng mình bà định đỡ con qua một bên nhưng thấy thương thương nên để yên. Tay bà vỗ nhẹ trên lưng cậu. Ly chìm dần trong ảo giác. Bà Long xa chồng hơn chục năm nay cảm giác yêu thương chăn gối dường như đã quên lãng hẳn bỗng dưng ào về khiến toàn thân bà nóng ran như lên cơn sốt. Bà run rẩy khi Ly ghì chặt lấy người bà như kéo cái hồi xuân của bà thức dậy. Mọi thứ che đậy đã nhường cho da thịt. Cái nhớ thương của hơn mười năm về trước đã tới nơi sâu kín nhất khiến bà không tài nào cưỡng lại được. Người đàn bà đã để mặc cho sự ấy sảy ra. Trong đê mê bà trấc lưỡi: “trẻ con chắc chẳng việc gì” rồi như ma khiến bà cũng ghì chặt lấy tấm lưng trần…
        Tiếng gà nhà ai gáy vang đầu chợ bà Long bừng tỉnh hoảng hốt. Bà bật dậy vội vàng đem chiếc chăn chiên đắp cho cậu con trai dường như vẫn đang còn trong cơn đồng thiếp.
        Sáng hôm sau Ly tay xách nách mang lên xe ngựa trở về Đà Bắc. Cậu không ngờ rằng đây lại là lần cuối cùng cậu được gặp mẹ.

More...