Nhà văn Bulgacov Một Nhân Cách Nga Vĩ Đại

Nhà văn Bulgacov
Một Nhân Cách Nga Vĩ Đại
alt

Mikhail Afanasievitr Bulgacov (М. А. Булгаков)
(1891 – 1940)

Mikhail Afanasievitr Bulgacov (М. А. Булгаков) sinh năm 1891 mất năm 1940 là một trong những nhà văn lớn nhất và kỳ bí nhất của nước Nga.

Nhà văn Nga Leonid Lens khẳng định: “Bulgacov – nhà văn đáng sống và sẽ sống chừng nào còn tồn tại văn học Nga”. Mối quan tâm đối với sự nghiệp sáng tác của Bulgacov mỗi ngày một tăng ở Nga và nhiều nơi trên thế giới tính “thời sự” của cuộc đời và tác phẩm của ông không hề giảm. Ông là một trong những nhà văn có tác phẩm được đưa lên và được đọc nhiều nhất trên mạng Internet.

Ông bắt đầu văn khi đang học những năm nội chiến tại Nga một số vở kịch của ông được diễn tại mặt trận. Đầu năm 1925 tiểu thuyết Bạch vệ của ông ra mắt bạn đọc và được viết thành kịch bản Những ngày của anh em Turbin. Tác phẩm phản ánh khách quan quá trình tan rã của Bạch vệ và số phận bi kịch của tầng lớp tri thức Nga chọn lầm con đường lịch sử.

Tuy nhiên từ năm 1929 ông bị buộc tội qua các kịch bản ông đã đứng về phía Bạch vệ bôi nhọ cách mạng các vở kịch bị cấm biểu diễn các bài báo sách đều bị hủy in. Trong tình cảnh túng quẫn tháng 3 năm 1930 ông đã gửi Chính phủ Xô viết một lá thư: “… Tôi xin Chính phủ Liên xô lưu ý rằng tôi không phải là một nhà hoạt động chính trị mà là một nhà văn toàn bộ tác phẩm của tôi tôi đã trao cho sân khấu Xô Viết (…) Tôi xin lưu ý rằng không được viết đối với tôi có nghĩa là bị chôn sống (…) Nếu những gì tôi viết không đủ sức thuyết phục và tôi buộc phải chung thân im lặng ở Liên Xô tôi đề nghị Chính phủ Xô Viết cho tôi việc làm theo nghề nghiệp ở nhà hát với tư cách đạo diễn…”.

Cuối những năm 20 đến khi ông mất hàng loạt tác phẩm của ông đã ra đời: 14 vở kịch văn xuôi Molier (truyện danh nhân) Tiểu thuyết sân khấu (Những ghi chép của người quá cố) và tác phẩm Nghệ Nhân và Margarita.

Các sáng tác nghệ thuật nổi tiếng của ông là tiểu thuyết bất hủ Nghệ nhân và Margarita (1928 được viết đi viết lại bảy lần) Trái tim chó (1925) Những quả trứng định mệnh (1925) và nhiều chuyện ngắn và vở kịch Puskin của ông.

1. Những quả trứng định mệnh là truyện giả tưởng – hài hước của ông. Nhân vật chính là nhà động vật học thiên tài Persicov. Ông phát minh ra một tia sáng đỏ kỳ diệu có tác dụng kích thích sự phát triển và sinh sản của các loài sinh vật cấp thấp. Nhưng chưa được nghiên cứu và kiểm nghiệm cái phát minh vĩ đại đó trong tay những kẻ thừa nhiệt tình hành động nhưng vô học. nó đã biến thành tai họa khủng khiếp: đáng lý làm nở ra những con gà cho nước cộng hòa vừa bị nạn dịch hủy diệt thì lại sinh ra vô vàn những đàn rắn và cá sấu khổng lồ suýt nữa tàn phá tất cả các làng mạc và thành phố. Sự nóng vội duy ý chí bất chấp mọi tri thức khoa học và kinh nghiệm lịch sử chỉ căn cứ đơn thuần vào các động cơ chính trị-xã hội không chỉ khiến cho đất nước rơi vào thảm họa mà còn là nguyên nhất giết chết thiên tài. Một phát minh kỳ diệu bị cưỡng đoạt không thể mang lại điều tốt đẹp mà có thể trở thành định mệnh tại hại.

2. Trái tim chó cũng là truyện ngắn của Bulgacov viết với sự sáng suốt tỉnh táo sớm cảnh báo nguy cơ những dạng người mang tâm lý chó đang lây lan rộng khắp xã hội.

Nhà bác học xuất chúng Preobrajenski qua thí nghiệm kết hợp thể xác chó hoang với tuyến yên não người tạo nên sinh vật có thể xác người dùng ngôn ngữ của người. Ông hy vọng cải biến nó thành người có trí tuệ. Nhưng khi vừa có chỗ đứng trong cộng đồng sinh vấn đó trở thành mối đe dọa. Sai lầm cơ bản là nhà bác học đã cấy não của Klim Trugunkin kẻ lưu manh trộm cắp rượu chè dối trá vào cơ thể chó. Sarikov – sinh vật tiếp thu ý thức của Klim không đại diện cho loài người nói chung. Hắn không có điểm chung của người vô sản nguồn gốc hắn phô ra để đòi hỏi các đặc quyền đặc lợi. Hắn là điển hình những gì xấu xa thấp hèn của tầng lớp vô sản lưu manh cái phần bản năng tối tăm trụy lạc trong cuộc sống quần chúng. Cách mạng đã giải phóng những khả năng sáng tạo kỳ diệu của người lao động nhưng cũng kích thích những bản năng thấp hèn. Chúng có khả năng tha hóa phá hoại thậm chí giết chết những lý tưởng cách mạng. Nhờ phép màu khoa học Sarikov đã dùng khả năng ngôn ngữ để làm những điều đốn mạt nhất – chửi rủa dối trá vu khống đòi hỏi và trốn tránh nghĩa vụ. Qua truyện ngắn tác giả đặt ra vấn đề cấp bách thời sự: trách nhiệm của nhà khoa học đối với các phát minh của mình. Mỗi sự tìm tòi phát minh đều phải đặt dưới sự kiểm soát của trách nhiệm đạo đức. Vượt khỏi tầm kiểm soát thì nó sẽ đe dọa sự tồn tại các giá trị đạo đức loài người đạo tạo nên đe dọa sự tồn tại chung của nền văn minh nhân loại.

3. Nghệ nhân và Margarita được bắt đầu viết năm 1928 trong 12 năm với tên ban đầu dự định là Tiểu thuyết về quỷ sứ. Khi qua đời vợ ông cùng bạn bè đã lược bỏ đánh máy ghép trọn vẹn thành tác phẩm. Năm 1973 tác phẩm được xuất bản đầy đủ lần đầu tiên bằng tiếng Nga. Sau đó nó được dịch sang các thứ tiếng và đưa lên sâu khấu thành kịch nói nhạc kịch phim truyền hình phim truyện… Khắp nơi bùng nổ những tranh luận về tư tưởng bút pháp… của tác phẩm văn học mang tính triết học này. Người ta nhận thấy đây là miền đất hấp dẫn bí ẩn vô tận cho các cuộc khám phá. Tác phẩm thể hiện thiên tài tuyệt diệu của Bulgacov như một nhà văn trào phúng giả tưởng và hiện thực.

Sự kiện xảy ra tại Moskva những năm 20-30 thời kỳ sau chính sách Kinh tế mới. Đám khán giả hám sống phè phỡn tham lam trụy lạc trong buổi biểu diễn ảo thuật tại nhà hát Tạp kỹ. Chuyện về ông Chủ tịch Hội đồng nhà cửa Nikanor Ivanovich thiển cận hay ăn hối lộ. Chuyện trào phúng về ban phụ trách nhà hát Tạp kỹ cửa hàng dành cho người nước ngoài Ủy ban biểu diễn. Chuyện về Chủ tịch hội nhà văn Berlioz tổng biên tập tạp chí lớn dung túng cho các nhà phê bình vu khống tuyên truyền học thuyết “sau khi đầu bị cắt cuộc sống con người cũng chấm dứt con người biến thành tro bụi và đi vào cõi vô sinh”. Thực chất là thái độ tự mãn duy lý mang danh “duy vật” toan tính “lên kế hoạch” và “điều hành” mọi hình thức của cuộc sống phủ nhận mù quáng thô bạo và ngu dốt tất cả những gì không nằm trong công thức sơ lực đưa từ trên xuống. Mục đích của Berlioz không phải phê phán mà xóa bỏ các giá trị đạo đức và thẩm mỹ truyền thống nhân loại đã đạt được qua phát triển. Bulgacov quyết liệt chống lại học thuyết giáo điều thực chất là ngu dân đó bởi nó làm nảy sinh thái độ sống thực dụng thô bạo biến cuộc đời con người thành sự tồn tại thiển cận nghèo nàn về tinh thần.

Cùng nhóm sự kiện và nhân vật trào phúng là các nhân vật ma quái: chúa quỷ Satan Voland và đoàn tùy tùng. Chỉ ba ngày đêm đến “du lịch” Moskva nhóm này đã quấy đảo dồn hút lên bề mặt cuộc sống tất cả những gì xấu xa ác độc rọi vào đó những luồng sáng khuếch đại gay gắt đến mức bạn đọc không phải ai cũng chấp nhận nổi.

Hình tượng “nghệ nhân” trong tác phẩm cũng là “cái tôi thứ hai” của tác giả. Qua hình tượng này tác giả tự bộc bạch mình một cách sâu sắc trung thực đầy đủ những quan niệm của ông về nghệ thuật. Mặc dù căm ghét cuốn tiểu thuyết đã mang lại cho mình Nghệ Nhân cũng phải nói lời phán quyết giải thoát quan tổng trấn Poti Pilat. Những đau khổ phải gánh chịu trong đời không làm chết đi được bản chất cao thượng nhân đạo trong người nghệ sĩ. Đó là trách nhiệm nghĩa vụ “món nợ” của người nghệ sĩ của nghệ thuật trước cuộc đời.

Bên cạnh Nghệ Nhân là nàng Margarita người vợ yêu quý. Margarita là hiện thân của tình yêu vô bờ bến vì tình yêu chấp nhận tất cả. Để cứu người tình nàng sẵn sàng trở thành phù thủy đi cùng quỷ sứ. Nàng là thần hộ vệ của Nghệ Nhân giống như tình yêu là thần hộ mệnh của nghệ thuật – cặp bài trùng làm nên số phận.

Nhóm sự kiện thứ ba là sự kiện tôn giáo với hai nhân vật chính là Poti Pilat và Iesua được Bulgacov viết dựa theo cuộc đời và cái chết của chúa Giesu. Ponti Pilat quan tổng trấn tàn bạo xứ Guidea là kỵ sĩ Ngọn giáo vàng từng là chiến tướng không hề biết sợ trong trận mạng đã một lần tỏ ra hèn nhát không vượt qua hòn đá thử vàng thể hiện sự hèn nhát về mặt đạo đức khi tuyên án tử hình Iesua. Hành động đó được Bulgacov khái quát lên: con người càng có uy quyền lớn thì càng phải có trách nhiệm đạo đức trước lý tưởng nhân đạo; nếu không bị kiểm soát bởi cái trách nhiệm cao cả đó quyền lực sẽ biến thành độc đoán sức mạnh sẽ trở nên bất lực con người sẽ vượt qua ranh giới giữa cái Thiện và cái Ác bỏ qua lẽ phải và chân lý để đứng hẳn sang phía cái Ác hàng ngàn năm không được lương tâm tha thứ.

Bulgacov đã đưa ra vấn đề vĩnh cửu nhưng luôn là thời sự về trách nhiệm của cá nhân trước lịch sử trước cuộc đời. Ponti Pilat và Iesua là hai quan niệm sống đối cực nhau. Nếu Iesua tin tưởng tuyệt đối rằng thế giới được xây dựng trên cơ sở của cái Thiện rằng mọt người đều nhân từ thì Ponti Pilat ngược lại cho rằng bản chất con người là độc ác rằng cái Thiện sẽ không bao giờ chiến thắng. Bản thân cuộc đời đã không khẳng định cả hai quan điểm cực đoan đó. Iesua bị chính “những con người nhân từ” phản bội đánh đập xử hình; nhưng đồng thời vẫn không cái ác cái xấu xa cái đểu giả nào có thể loại trừ được cái tốt cái thiện khỏi cuộc đời. Cho đến phút chót Iesua vẫn không thôi chăm lo đến người khác; và chính cái lòng thiện vô cùng tận đó đã làm lung lay những hoài nghi của Ponti Pilat khiến ông ta không thể sống yên cũng phải làm một cái gì đó để chuộc lỗi lầm. Tác giả tiểu thuyết khẳng định: cái Ác và cái Thiện cùng tồn tại trong đời. Nhưng sự tồn tại đó không phải do những thế lực siêu phàm nào chi phối mà do sự lựa chọn hành động của chính bản thân mỗi người (Ponti Pilat có thể tha hay tử hình Ieasua). Sự lựa chọn đó chỉ phụ thuộc vào các nguyên tắc đạo đức nằm trong quan điểm sống của từng người sự lựa chọn đó tự do đối với hoàn cảnh. Nhưng một khi con người được tự do lựa chọn hành động thì chính con người phải chịu trách nhiệm trong các hành động của mình và không có gì – số phận hoàn cảnh sống – có thể biện minh cho cái Ác được tiến hành.

THƯ GỬI CHÍNH PHỦ LIÊN XÔ
CỦA NHÀ VĂN M. BULGAKOV

alt

Tượng đài Mikhail Bulgacov
(15/5/1891 – 12/3/1940)

Lời người dịch: Mikhail Bulgacov (15/5/1891 – 12/3/1940) là một trong những nhà văn lớn nhất và kì bí nhất của nước Nga sinh thời bị truy bức nặng nề nhưng vẫn giữ vững nhân cách và quan điểm nghệ thuật của mình. Sau nhiều năm sách bị cấm in kịch bị cấm diễn người quen xa lánh hết tiền thất nghiệp ông gửi tới Stalin và Chính phủ Xô Viết hai lá th­ư dưới đây là một trong hai lá thư đó đề ngày 28/3/1930.

Moskva 28 tháng 3 năm 1930.
Tôi là Mikhail Aphanasevich Bulgakov
(Moskva phố Bolsaia Pirogorskaia nhà 35a phòng 6).
Tôi xin gửi lên Chính phủ Liên Xô bức thư sau:

1

Sau khi toàn bộ các tác phẩm của tôi bị cấm nhiều công dân biết tôi là một nhà văn đã lên tiếng cho tôi cùng một lời khuyên như sau:

Viết một “vở kịch cộng sản” (tôi để những đoạn trích trong ngoặc kép) và ngoài ra gửi lên Chính phủ Liên Xô một bức thư hối lỗi trong đó bày tỏ việc từ bỏ những quan điểm trước đây của tôi được thể hiện trong các tác phẩm văn học của tôi và hứa rằng từ nay sẽ làm việc như một nhà văn đồng hành(1) trung thành với lí tưởng cộng sản.

Mục đích: tự cứu mình thoát khỏi những vùi dập đói khổ và cuối cùng là cái chết tất yếu.

Tôi đã không nghe theo lời khuyên đó. Chắc gì tôi đã cải thiện được vị thế của mình trong con mắt Chính phủ Liên Xô sau khi viết một bức thư dối trá và thể hiện cú nhào lộn chính trị dơ dáy và ngây thơ như vậy. Còn vở kịch cộng sản thì tôi cũng không thử viết bởi vì tôi biết trước rằng sẽ không thành.

Cái khao khát đã đến độ trong tôi muốn chấm dứt những đau khổ của người viết văn buộc tôi gửi lên Chính phủ Liên Xô một lá thư trung thực.

2

Trong khi phân tích những bài báo được lưu trữ trong hồ sơ của tôi tôi phát hiện ra qua mười năm hoạt động văn học của tôi trên báo chí Liên Xô đã có 301 bài viết về tôi trong đó có ba bài khen còn số bài thù địch chửi rủa là 298.

298 bài báo này là tấm gương phản chiếu cuộc đời viết văn của tôi.

Trong một bài thơ đăng báo người ta gọi Aleksei Turbin nhân vật vở kịch Những ngày của anh em Turbin của tôi là “ĐỒ CHÓ ĐẺ”(2) còn tác giả của vở kịch được giới thiệu như một kẻ bị ám ảnh bởi cái “THỜI MỤC NÁT CHÓ MÁ”. Người ta viết về tôi như một gã DỌN BÀN đi nhặt nhạnh những thứ cơm thừa canh cặn sau khi cả tá khách ăn đã NÔN MỬA ra đấy.

Người ta viết rằng:

“MISKA(3) Bulgakov ông bạn vàng của tôi XIN LỖI VỀ CÁCH DIỄN ĐẠT CŨNG LÀ NHÀ VĂN KIA ĐẤY lục lọi TRONG ĐỐNG RÁC THỐI RỮA… Gì thế này tôi hỏi người anh em CÁI MÕM của anh… Tôi là người tế nhị cứ VÁC CHẬU MÀ KHỤC VÀO GÁY HẮN… Không có lũ Turbin bọn phàm tục đâu cần đến chúng ta cũng như CHÓ CÁI CẦN GÌ ĐẾN NỊT VÚ. Tòi đâu ra ĐỒ CHÓ ĐẺ TÒI ĐÂU RA MỘT GÃ TURBIN cầu cho gã TRƠ KHẤC CẢ TIẾNG LẪN MIẾNG. (Sinh hoạt NGHỆ THUẬT số 44 năm 1927).

Người ta viết: “Về Bulgakov kẻ trước sau vẫn là một QUÁI THAI TƯ SẢN MỚI phun nước bọt tẩm thuốc độc nhưng vô tác dụng lên giai cấp công nhân và lí tưởng cộng sản của họ (báo Sự thật Đoàn thanh niên cộng sản ngày 14 tháng 10 năm 1920).

Người ta thông báo rằng tôi thích KHÔNG KHÍ ĐÁM CƯỚI CHÓ MÁ xung quanh bà vợ tóc hung nào đó của một người bạn (A. Lunatrarski(4) báo Tin tức ngày 8 tháng 10 năm 1926) và rằng từ vở kịch của tôi Những ngày của anh em Turbin BỐC MÙI THỐI (Biên bản cuộc họp Ban tuyên huấn vào tháng Năm năm 1927) và vv… và vv…

Xin thông báo ngay tôi trích dẫn không phải để kêu ca các nhà phê bình hay để khơi ra một cuộc tranh luận nào đó. Mục đích của tôi nghiêm túc hơn nhiều.

Tôi xin chứng minh bằng các tư liệu có trong tay rằng toàn bộ báo chí Liên Xô và cùng với báo chí là tất cả các cơ quan được giao trách nhiệm kiểm soát các chương trình biểu diễn trong suốt những năm hoạt động văn học của tôi đều nhất trí với một sự HUNG HÃN KHÁC THƯỜNG chứng minh rằng các tác phẩm của Mikhail Bulgakov không thể tồn tại được ở Liên Xô.

Và tôi tuyên bố rằng báo chí Liên Xô HOÀN TOÀN ĐÚNG.

3

Điểm xuất phát của bức thư này đối với tôi là tác phẩm đả kích(5) của tôi vở kịch Đảo thắm(6).

Toàn bộ giới phê bình Liên Xô không trừ một ai đều tuyên bố rằng nó “bất tài bất lực nghèo nàn” và rằng nó là một “tác phẩm bôi nhọ cách mạng”. Một sự nhất trí hoàn toàn nhưng nó bị phá vỡ một cách bất ngờ và hết sức đáng ngạc nhiên.

Trong số 12 của Thông tin biểu diễn (năm 1928) xuất hiện một bài điểm tin của P. Noviski trong đó thông báo rằng Đảo thắm là một “vở kịch trào phúng hay và sắc sảo” trong đó hiện lên bóng dáng đáng sợ của một Đại pháp quan bóp nghẹt sự sáng tạo nghệ thuật và cổ xuý những KHUÔN MẪU KỊCH BẢN NÔ LỆ PHI LÍ MỘT CÁCH XU NỊNH xóa bỏ cá tính của người diễn viên và nhà văn rằng Đảo thắm nói về một thế lực đen tối đáng sợ nhào nặn nên những kẻ NÔ BỘC XU NỊNH VÀ TÂNG BỐC…

Trong bài nói rằng “nếu thế lực đen tối đó đang tồn tại thì SỰ PHẪN NỘ VÀ CHÂM CHỌC ĐỘC ĐỊA CỦA NhÀ VIẾT KỊCH ĐƯỢC GIỚI TƯ SẢN CA NGỢI LÀ CÓ CƠ SỞ”

Xin dám hỏi: chân lí ở đâu?

Rốt cuộc thì Đảo thắm là cái gì? Là “vở kịch bất tài nghèo nàn” hay một “tác phẩm đả kích sắc sảo”?

Chân lí ở trong bài báo của Noviski.

Tôi không tự đánh giá vở kịch của tôi sắc sảo đến đâu nhưng tôi thừa nhận rằng trong vở kịch quả hiện lên một bóng dáng đáng sợ và đó là bóng dáng của Ủy ban Biểu diễn. Chính Ủy ban này đã đào tạo nên những kẻ nô bộc tâng bốc và những kẻ nịnh bợ nơm nớp lo sợ. Chính nó giết chết các tư tưởng sáng tạo. Nó đang giết và sẽ giết chết nền kịch Xô Viết.

Tôi không nói thầm trong các xó xỉnh những suy nghĩ trên. Tôi đưa chúng vào vở kịch châm biếm và dựng nó trên sân khấu. Báo chí Xô Viết bênh vực Ủy ban Biểu diễn viết rằng Đảo thắm là một vở kịch vu khống(7) cách mạng. Đó là lời lẽ thiếu nghiêm túc của trẻ con. Trong vở kịch không có sự vu khống cách mạng vì nhiều nguyên nhân do thiếu chỗ tôi chỉ xin nêu lên một trong số đó: KHÔNG THỂ vu khống được cách mạng vì cách mạng quá sức lớn lao. Tác phẩm đả kích không phải là sự vu khống và Ủy ban Biểu diễn không phải là cách mạng.

Nhưng khi báo Đức viết rằng Đảo thắm là lời kêu gọi tự do báo chí đầu tiên ở Liên Xô (Cận vệ trẻ số 1 năm 1929) thì họ viết đúng. Tôi thừa nhận điều đó. Đấu tranh với kiểm duyệt dù nó là như thế nào và tồn tại dưới chính quyền nào là nghĩa vụ nhà văn của tôi cũng như kêu gọi tự do ngôn luận. Tôi là người ủng hộ nhiệt thành sự tự do đó và thiết nghĩ nếu có ai trong số các nhà văn định chứng minh rằng nó không cần cho anh ta thì anh ta chẳng khác gì một con cá công khai tuyên bố rằng nó không cần nước vậy.

4

Đó là một trong những đặc điểm của sáng tác của tôi và chỉ một mình nó cũng đã hoàn toàn đủ để các tác phẩm của tôi không tồn tại được ở Liên Xô. Nhưng gắn liền với đặc điểm thứ nhất này là tất cả những đặc điểm còn lại được thể hiện trong các tác phẩm trào phúng của tôi: những sắc thái đen tối và thần bí (tôi là MỘT NHÀ VĂN THẦN BÍ) mà tôi dùng để mô tả vô số những điều quái dị trong cuộc sống của chúng ta cái chất độc địa trong ngôn ngữ của tôi thái độ hoài nghi sâu sắc đối với quá trình cách mạng diễn ra trong đất nước lạc hậu của tôi và việc đem đối lập nó với sự Tiến Hóa Vĩ Đại mà tôi ngưỡng mộ và cái quan trọng nhất là sự mô tả những đặc điểm đáng sợ của nhân dân tôi những đặc điểm mà từ rất lâu trước cách mạng đã gây ra những đau khổ khôn tả cho người thày của tôi là M. E. Saltưkov – Sedrin(8).

Khỏi cần nói rằng báo chí Liên Xô không nghĩ đến việc chỉ ra một cách nghiêm túc tất cả những cái đó mà chỉ lo đưa ra những thông báo thiếu sức thuyết phục rằng văn trào phúng của M. Bulgakov là “SỰ VU KHỐNG”.

Chỉ một lần khi tôi mới bắt đầu nổi tiếng có người đã nhận xét với vẻ ngạc nhiên trịch thượng:

“M. Bulgakov ĐANG MUỐN trở thành một nhà văn trào phúng của thời đại chúng ta” (Phát hành sách số 6 năm 1925).

Than ôi động từ “muốn” đặt ở thời hiện tại là vô ích. Phải đưa nó về thời quá khứ hoàn thành: M. Bulgakov ĐÃ TRỞ THÀNH NHÀ VĂN TRÀO PHÚNG và đúng vào lúc mà không một thứ văn trào phúng thực sự nào (dám xâm nhập vào các vùng cấm) lại có thể được tồn tại ở Liên Xô.

Không phải tôi là người có vinh hạnh nói lên cái ý tưởng hình sự đó trên báo chí. Nó được thể hiện hết sức rõ ràng trong bài báo của V. Blium (số 6 Báo Văn học) và ý tưởng của bài báo đó được tóm lược một cách xuất sắc và chính xác vào một công thức sau:

BẤT KÌ NHÀ VĂN TRÀO PHÚNG NÀO Ở LIÊN XÔ ĐỀU MƯU HẠI CHẾ ĐỘ XÔ VIẾT.

Vậy tôi có thể tồn tại được ở Liên Xô hay không?

5

Và cuối cùng những đặc điểm sau chót của tôi trong các vở kịch đã bị giết chết như Những ngày của anh em Turbin Chạy trốn và Bạch vệ là: kiên trì mô tả giới trí thức Nga như tầng lớp ưu tú nhất ở đất nước chúng ta. Cụ thể mô tả gia đình trí thức – quý tộc bị số phận lịch sử nghiệt ngã ném sang phe Bạch vệ trong những năm nội chiến theo truyền thống của Chiến tranh và hòa bình. Sự mô tả như vậy là hoàn toàn tự nhiên đối với một nhà văn gắn bó máu thịt với giới trí thức.

Nhưng những sự mô tả như thế dẫn đến hậu quả là tác giả của chúng ở Liên Xô cùng với các nhân vật của mình bị gán cho – bất chấp những cố gắng to lớn ĐỨNG TRÊN CẢ PHE ĐỎ LẪN PHE TRẮNG MỘT CÁCH VÔ TƯ – cái danh hiệu bạch vệ thù địch và với danh hiệu đó thì như ai cũng hiểu có thể coi mình là kẻ bỏ đi ở Liên Xô.

6

Chân dung văn học của tôi đã hoàn tất và đó cũng là chân dung chính trị. Tôi không thể nói có thể tìm thấy ở đó một tội phạm nặng đến mức nào nhưng tôi xin đề nghị một điều: không đi tìm một cái gì ở ngoài chân dung đó. Nó được dựng lên hoàn toàn trung thực.

7

Hiện nay tôi đã bị hủy diệt.
Sự hủy diệt đó được dư luận xã hội Xô Viết đón nhận hết sức vui mừng và được gọi là THÀNH TỰU.
R. Pikel khi nói về sự hủy diệt đó (báo Tin tức ngày 15 tháng 9 năm 1929) đã phát biểu một ý tưởng đầy bao dung như sau: “Bằng điều đó chúng ta không muốn nói rằng tên của Bulgakov đã bị gạch khỏi danh sách các nhà viết kịch Xô Viết”.
Và an ủi nhà văn bị cắt cổ rằng đây là “chỉ nói về những tác phẩm kịch quá khứ của anh ta”.
Nhưng cuộc sống mà đại diện là Ủy ban Biểu diễn đã chứng minh rằng sự bao dung của R. Pikel là không có cơ sở nào cả.

Ngày 18 tháng 3 năm 1930 tôi nhận được công văn của Ủy ban Biểu diễn thông báo một cách ngắn gọn rằng kịch bản Sự nô dịch của những kẻ đạo đức giả (Molier) một vở kịch không phải quá khứ mà là mới viết của tôi KHÔNG ĐƯỢC PHÉP TRÌNH DIỄN.

Nói tóm lại bằng hai dòng chữ của tờ công văn đã chôn vùi công sức làm việc ở các kho sách trí tưởng tượng của tôi kịch bản được các chuyên gia sân khấu hàng đầu đánh giá là một tác phẩm xuất sắc.

R. Pikel đã lầm. Đã bị giết chết không chỉ các tác phẩm quá khứ mà cả những vở kịch hiện tại và tất cả những vở kịch tương lai của tôi. Và tự tay tôi tôi đã ném vào lò sưởi một tập bản thảo cuốn tiểu thuyết viết về quỷ sứ một tập bản thảo hài kịch và phần đầu cuốn tiểu thuyết thứ hai của tôi – Tiểu thuyết sân khấu(9).

Tất cả các tác phẩm của tôi đều vô vọng.

8

Tôi đề nghị Chính phủ Xô Viết lưu ý rằng tôi không phải là một nhà hoạt động chính trị mà là một nhà văn toàn bộ sản phẩm của tôi tôi đã trao cho sân khấu Xô Viết.

Tôi đề nghị lưu ý đến hai nhận xét sau đây về tôi trên báo chí Xô Viết.

Cả hai đều thuộc về những kẻ thù không khoan nhượng đối với các tác phẩm của tôi và vì vậy chúng rất có giá trị.

Năm 1925 có người viết:

“Xuất hiện một nhà văn thậm chí không khoác áo kẻ đồng hành” (L. Averbakh báo Tin tức ngày 20 tháng 9 năm 1925).

Và năm 1929:

“Tài năng của anh ta cũng hiển nhiên như tính phản động xã hội trong sáng tác của anh ta”. (R. Pikel báo Tin tức ngày 15 tháng 9 năm 1929).

Tôi xin lưu ý rằng không được viết đối với tôi cũng có nghĩa là bị chôn sống.

9

TÔI ĐỀ NGHỊ CHÍNH PHỦ LIÊN XÔ RA LỆNH CHO TÔI KHẨN CẤP RỜI BỎ LÃNH THỔ LIÊN XÔ CÙNG VỚI VỢ TÔI LÀ LIUBOV EVGHENIEVNA BULGAKOVA(10).

10

Tôi kêu gọi lòng nhân đạo của chính quyền Xô Viết và đại lượng cho phép tôi một nhà văn không thể có ích ở trong nước được tự do.

11

Nếu như tất cả những gì tôi đã viết không đủ sức thuyết phục và tôi phải chung thân im lặng ở Liên Xô tôi đề nghị Chính phủ Xô Viết cho tôi việc làm theo chuyên môn và giới thiệu tôi vào làm việc ở nhà hát với tư cách đạo diễn trong biên chế.

Tôi cố tình nhấn mạnh lời đề nghị về một MỆNH LỆNH DỨT KHOÁT về SỰ GIỚI THIỆU vì rằng tất cả những cố gắng của tôi tìm việc làm trong cái lĩnh vực duy nhất mà tôi có thể có ích cho Liên Xô như một chuyên gia đặc biệt lành nghề đều đã thất bại hoàn toàn. Tên tuổi của tôi đã bị làm cho vấy bẩn đến mức những lời đề nghị hợp tác từ phía tôi đều khiến mọi người hoảng sợ mặc dù ở Moskva rất nhiều diễn viên và đạo diễn và cùng với họ là các giám đốc nhà hát đều biết rất rõ sự am hiểu sân khấu hoàn hảo của tôi.

Tôi đề nghị Liên Xô chấp nhận một chuyên gia đạo diễn và diễn viên hoàn toàn trung thực không hề có một ý đồ phá hoại nào sẵn sàng dựng một cách tử tế bất kì vở kịch nào từ kịch của Shakespeare đến kịch của những tác giả hiện đại.

Tôi đề nghị bổ nhiệm tôi làm đạo diễn thử nghiệm ở Nhà hát Nghệ thuật số Một trường học tốt nhất do các bậc thầy K. S. Stanislavski và V. I. Nemirovich-Dantrenko(11) lãnh đạo.

Nếu không được làm đạo diễn tôi xin làm diễn viên đóng vai phụ. Nếu làm diễn viên phụ cũng không được tôi xin làm công nhân sân khấu.

Nếu cả điều đó cũng không thể được tôi xin Chính phủ Xô Viết xử trí tôi như Chính phủ thấy cần thiết nhưng hãy xử trí như thế nào đó bởi vì đối với tôi một nhà viết kịch đã có năm vở kịch nổi tiếng ở Liên Xô và nước ngoài ngay trước mắt VÀO THỜI ĐIỂM NÀY là đói rách bị vứt ra đường phố và chết.

M. BULGAKOV
(DG.ĐOÀN TỬ HUYẾN dịch từ nguyên tác tiếng Nga)

(1) … Nhà văn đồng hành: chỉ những nhà văn không phải xuất thân giai cấp vô sản nhưng sau cách mạng hoặc tự nguyện hoặc buộc phải đi cùng (đồng hành) với giai cấp vô sản..
(2) Viết hoa trong nguyên bản.
(3) Miska: Cách gọi thân mật hoặc suồng sã tên Mikhail của Bulgakov..
(4) A. Lunatrarski (187-1935): nhà văn nhà lý luận bộ trưởng Giáo dục từ năm 1917.
(5) Tác phẩm đả kích: nguyên tác là памфлет các từ điển tiếng Việt dịch là Tác phẩm đả kích có lẽ chưa thật chuẩn.
(6) Nguyên tác tiếng Nga: Багровый остров.
(7) Vu khống: tiếng Nga là пасквиль từ điển dịch là văn nhục mạ văn vu khống.
( 8) Saltưkov – Sedrin (1826-1889): nhà văn trào phúng Nga cùng với N. Gogol được Bulgakov coi là thầy của mình.
(9) Tức là tiểu thuyết Nghệ Nhân và Margarita kịch bản Niềm khoái lạc và Tiểu thuyết sân khấu.
(10) Liubov Evghenievna Bulgakova: người vợ thứ hai của Bulgakov năm 1930 ông sống với bà này khi đó chưa gặp Elena Sergeievna là người vợ cuối cùng.
(11) Stanislavski (1863-1938) Nemirovich – Dantrenko (1858-1943): các đạo diễn cách tân vĩ đại Nga.

Batinh.com Theo nguồn:
Chungta.com (tổng hợp) & Trung Tâm VHNN Đông Tây